CÁC LỆNH TẮT TRONG AUTOCAD
PHÍM TẮT/ TÊN LÊNH/ MỤC ĐÍCH
3A 3DARRAY tạo ra mọt mạng 3 chiều tuỳ chọn
3D0 3DORBIT
3F 3DFACE tạo ra 1 mảng 3 chiều
3P Tạo ra 1 đa tuyến bao gồm các đoạn
thẳng trong không gian 3 chiều
A
A ARC vẽ cung tròn
ADC ADCENTER
AA AREA Tính diện tích và chu vi một đối tượng
AL ALIGN Di chuyển và quay các đối tượng để căn chỉnh
Các đối tượng
AP APPLOAD Đa ra hộp thoại để tải và huỷ tải Autolisp ADS
Và các trình ứng dụng ARX
AR ARRAY tạo ra các bản sao các đối tượng được chon
ATT ATTDEF tạo ra mọt định nghĩa thuộc tính
-ATT -ATTDEF tạo các thuộc tính của Block
ATE ATTEDIT Hiệu chỉnh Block
B
B BLOCK tạo Block
BO BOUNDARY El tạo đa tuyến kín
BR BREAK Xét 1 phần đoạn thẳng giữa 2 điểm chọn
C
C CIRCLE vẽ đường tròn bang nhiều cách
CH PROPERTIES hiệu chỉnh thông số kỹ thuật
-CH CHANGE hiệu chỉnh text,thay đổi R,D
CHA ChaMFER Vát mép các cạnh
COL COLOR Xác lập màu dành cho các đối tượng được vẽ
Theo trình tự
CO,CP COPY Sao chép đối tượng
D
D DIMSTYLE tạo ra và chỉnh sửa kích thước
DAL DIMALIGNED Ghi kích thước thẳng và có thể căn chỉnh được
DAN DIMANGULAR Ghi kích thước góc
DBA DIMBASELINE tiếp tục 1 kích thước đoạn thẳng,góc từ đường nền của kích thước được chọn
DCE DIMCENTER tạo ra một đường tâm hoạc đường tròn xuyên
tâm của các cung tròn&đường tròn
DCO DIMCONTINU tiếp tục 1 đường thẳng,1góc từ đường mở rộng
1. thứ 2 của kích thước trước đây hoạc kt chọn
DDI DIMDIAMETE Gi kích thước đường kích
DED DIMEDIT chỉnh sửa kích thước
DI DIST Đo khoảng cách và góc giữa 2 điểm
DIV DIVIDE đặt mỗi 1 đối tượng điểm và các khối dọc theo
DLI DIMLINEAR tạo ra kthước thẳng thẳng đứng hay nằm ngang
DO DONUT vẽ các đường tròn hay cung tron được today là
vẽ hình vành khăn
DOR DIMORDINATE tạo ra kích thước điểm góc
DOV DIMOVERRID viết chồng lên các tuyến hệ
DR DRAWORDER Thay đổi chế độ hiển thị các đối tượng và hảnh
DRA DIMRADIUS tạo ra kích thước bán kính
DS DSETTINGS hiển thị DraffSetting để đặt chế độ cho Snap
end Grid,Polar tracking
DT DTEXT vẽ các mục văn bản
DV DVIEW Xác lập phép chiếu song song hoạc các chế độ
Xem cảnh
E
E ERASE Xoá các đối tượng
ED DDEDIT Đưa ra hộp thoại từ đó có thể chỉnh sửa nội
Dung văn bản, định nghĩa thuộc tính
EL ELLIPSE vẽ elip
EX EXTEND Kéo dài đối tượng
EXIT QUIT Thoat khỏi chương trính
EXP EXPORT Lưu bản vẽ sang dạng file khác
EXT EXTRUDE tạo ra vật thể rắn bằng cách đùn xuát đối tượng
2 chiều đang có
F FILLET Nối hai đối tượng bằng cung tròn
FI FILTER Đa ra hộp hội thoai từ đó có thể đa ra danh
Sách để chọn dựa trên thuộc tính của nó
G
G GROUP Đa ra hộp hội thoại có thể tạo ra một tập hợp Các đối tượng đặt tên
-G -GROUP chỉnh sửa tập hợp các đối tượng
GR DDGRIPS hiển thị hội thoại qua đó có thể cho các hoạt
động và xác lập màu ,kích cỡ
H BHATCH Tô vật liệu
-H -HATCH định nghĩa kiểu tô vật liệu
HE HATCHEDIT hiệu chỉnh tô vật liệu
HI HIDE tạo lại mô hình 3D
I
I INSERT Chèn một khối được đặt tên hoạc bản vẽ vào
bản vẽ vào bản vẽ hịên hành
-I -INSERT chỉnh sửa khối đã chèn
IAD IMAGEADJUS mở ra hộp hội thoại để diều chỉnhđộ sang tương
phản, đổ đục của hình ảnh
IAT IMAGEATTAC mở hộp thoại chỉ ra tên của hình ảnh cũng như
tham số
ICL IMAGECLIP tạo ra 1 đường biên dành cho các đối tượng
hình ảnh đơn
IM IMAGE Chèn hình ảnh ở các dạng khác vào1 file bản vẽ
Autocad
-IM -IMAGE hiệu chỉnh hình vẽ đã chèn
IMP IMPORT hiển thị hộp thoại cho phép nhập các dạng file
khác vào Autocad
IN INTERSECT tạo ra các có thể tỏng hơp hoạc vùng tổng
hợp từ phần giao của 2 y nhều cố thể
INF INTERFERE Tìm phần giao của nhiều cố thể
IO INSERTOBJ Chèn một đối tượng lien kết hoạc nhúng vào
L
L LINE vẽ đường thẳng
LA LAYER tạo lớp và các thuộc tính
-LA -LAYER hiệu chỉnh thuộc tính của layer
LE LEADER tạo ra một đường kết nối các dòng chú thích
cho một thuộc tính
LEN LENGTHEN Thay đổi chiều dài của một đối tượng và các góc
,cung
Ls,LI LIST hiển thị thông tin cơ sở dữ liệu cho các đối
tượng được chọn
Lw LWEIGHT Khai báo hay thay đổi chiều dài nét vẽ
LO -LAYOUT
LT LINETYPE hiển thị hộp thoại tạo và xác lập các kiểu đường
LTS LTSCALE Xác lập thừa số tỷ lệ kiểu đường
M
M MOVE Di chuyển đối tượng
MA MATCHPROP Sao chép các thuộc tính tứ đối tượng này sang
đối tượng khác
ME MEASURE đặt các đối tượng điểm hoặc các khối ở tại các
mức đo trên một đối tượng
MI MIRROR tạo ảnh của đối tượng
ML MLINE tạo ra các đường song song
MO PROPERTIES hiệu chỉnh các thuộc tính
MS MSPACE Hoán chuyển từ không gian giấy sang cổng xem
Di động đang có
MT tạo ra mọt đoạn văn MTEXT bản
MV MVIEW tạo ra các cổng xem di động và bật các cổng
xem di đọng đang có
O
O OFFSET vẽ các đường thẳng song song, đường tròn
đồng tâm
OP OPTIONS mở menu chính
OS OSNAP hiển thị hộp thôạich phẽpác lập các chế đạng
truy chụp đối tượng đang chay
P
P PAN Di chuyển cả bản vẽ
-P -PAN Di chuyển cả bản vẽ từ điểm 1 sang điểm 2
PA PASTESPEC Chèn dữ liệu từ Window Clip-board và điều khiển dạng thức của dữ liệu,sử dụng OLE
PE PEDIT chỉnh sửa các đa tuyến và các mạng lưới đa
tuyến 3 chiều
PL PLINE vẽ đa tuyến đường thẳng, đường tròn
PO POINT vẽ điểm
POL POLYGON vẽ đa giác đều khép kín
PROPS PROPERTIES hiển thị menu thuộc tính
PRE PREVIEW hiển thị chế độ xem một bản trước in
PRINT PLOT in
PS PSPACE Hoán chuyển từ cổng xem không gian mô hình
Sang không gian giấy
PU PURGE Xoá bỏ các tham chiếu không còn dung ra khỏi
cở dữ liệu
R
R REDRAW Làm tươi lại màn hình của cổng xem hiện hành
RA REDRAWALL Làm tươi lại màn hình của tất cả các cổng xem
RE REGEN tạo lại bản vẽ và các cổng xem hiện hình
REA REGENALL tạo lại bản vẽ và làm sang lại tất cả các cổng
xem
REC RECTANGLE vẽ hình chữ nhật
REG REGION tạo ra 1 đối tượng vùng từ 1 tập hợp các đối
tượng đang có
REN RENAME Thay đổi tên các đối tượng có chứa các khối,
,Các kiểu kích thước,các lớp,kiểu đường
REV REVOLVE tạo ra 1 cố thể bằng cách quay 1 đối tuơng 2
chiêu quay 1 trục
RM DDRMODES Đa ra hộp hội thoại đó có thể xác lập các trợ
Giúp bản vẽ
RO ROTATE Xoay đối tượng quanh 1 điểm
RPR RPREF hiển thị hộp thoại cho phép xác lập các tham
chiếu tô bóng
RR RENDER hiển thị hộp thoại từ đó tạo ra hình ảnh độ tô
bong,hiện thực trong khung 3D,mô hình
S
S StrETCH Di chuyển hoạc căn chỉnh đối tượng
SC SCALE Phóng to,thu nhỏ theo tỷ lệ
SCR SCRIPT hiển thị 1 chuỗi lệnh
SEC SECTION sử dụng mặt giao của 1 mằt phẳng và các
cố thể nhằm tạo ra 1 vùng
SET SETVA liệt kê tất cả các giá trị thay đổi của biến hthống
SHA SHADE hiển thị hình ảnh phẳng
SL SLICE Các lớp 1 tập hợp các cố thể bằng 1 mặt phẳng
SN SNAP hạn chế sựdi chuyển của 2 sợi tóc theo những
mức được chỉ định
SO SOLID tạo ra các đa tuyếncó thể được tô đậm
SP SPELL hiển thị hộp thoại có thể kiểm tra cách viết văn
bản được tạo ra với dtext,text,Mtext
SPL SPLINE Tao ra cung,vẽ đường cong lien tục
SPE SPLINEDIT hiệu chinh spline
ST STYLE hiển thị hộp thoại cho phép tạo ra các kiểu văn
bản được đạt tên
SU SUBTRACT tạo ra mọt vùng tổng hợp
T MTEXT tạo ra một đoạn văn bản
TA TABLET Đinh chuẩn bảng với hệ toạ độ của 1 bản vẽ
Trên giấy
TH THICKNESS
TI TILEMODE
TO TOOLBAR hiển thị che dấu định vị của các thanh công cụ
TOL TOLERANCE tạo dung sai hình học
TOR TORUS tạo ra vật thể hình vành khuyên
TR TRIM cắt tỉa các đối tượng tại 1 cạnh cắt được xác
định bởi đối tượng khác
U
UC DDUCS Đa ra hộp thoai quản lý hệ toạ độ người đinh
Đã được xác định trong không gian
UCP DDUCSP Đa ra hộp thoại có thể chọn 1 hệ toạ độ dung
UN UNITS chọn các dạng thức tạ độ chính xác của tdộ,góc
UNI UNION tạo ra vùng tổng hợp hoạc có thê tổng hợp
V
V VIEW Lưu và phuc hồi các cảnh được đặt tên
VP DDVPOINT Đa ra hộp thoại xác lập hướng xem 3 chiều
-VP VPOINT Xác lập hướng xem trong 1 chế độ xem 3 chiều
của bản vẽ
W WBLOCK viết các đối tường sang 1 file bản vẽ mớí
WE WEDGE tạo ra 1 cá thể 3 chiều với một mặt nghiêng và
một góc nhọn
X
X EXPLODE ngắt môt khối đa tuyến…thành các phần cấu thg XA XATTACH Đa ra hộp thoại có thể gán 1 tham chiếu ngoại
vào bản vẽ hiện hành
XB XBIND buộc các đối tượng phụ thuộc của 1 Xrè vào
1 bản vẽ hiện hành
XC XCLIP Xác định một đường biên và tập hợp các mp
nghiêng
XL XLINE tạo ra 1 đường mở rộng vô hạn theo 2 hướng
XR XREF hiển thị hộp thoại để điều khiển các tham chiếu
Z ZOOM Tăng giảm kích thước của các đối tượng trong
cong xem hiện hành
Ký hiệu khổ giấy 44 24 22 12 11
Kích thước các cạnh 1189x841 594x841 594x420 297x420 297x210
Ký hiệu Ao A1 A2 A3 A4
CHÚ ÝO TRONG BÀI KHÔNG SẮP XẾP ĐƯỢC THEO CỘT(DỄ NHÌN HƠN) NÊN MÌNH PHẢI QUY ĐỊNH CÂU LỆNH ĐƯỢC GI BẰNG MÀU ĐỎ.SAU ĐÓ LÀ CÂU LỆNH ĐẦY ĐỦ VÀ LỜI GIẢI THÍCH VỀ CÂU LỆNH ĐÓ!
Wednesday, October 6, 2010
Ngàn năm đại họa - Bắn pháo hoa sớm ở sân Mỹ Đình
Đại lễ hay là đại họa không biết nữa ? Khi mà hôm nay nổ hai container pháo hoa, tổn thất bao nhiêu tiền của. Báo chí đưa tin thì bị yêu cầu gỡ xuống.
Đại lễ còn 4 ngày nữa, hay là hoãn luôn bây giờ nhỉ ?



Tuesday, October 5, 2010
"Xấu lạ" khoe vòng 1... hình ảnh 3D
(2Sao) - Hãy chuẩn bị cho mình một cặp kính 3D để cùng ngắm một Thảo Trang chuẩn đến từng cen-ti-met trong bộ hình mới áp dụng kỹ thuật 3D.
Để thực hiện bộ ảnh này, Thảo Trang đã dành gần 2 tiếng để thực hiện những động tác mà stylist yêu cầu, đồng thời phải giữ nguyên tư thế đó trong một thời gian ngắn để photographer thực hiện 2 góc ảnh khác nhau cho một shoot hình. Hãy cùng trò chuyện cùng Thảo Trang trước khi đến với những hình ảnh mà cô ca sỹ của “The New Me” quyết “thả rông” bộ ảnh của mình.

Hãy cùng chuẩn bị cho mình một cặp mắt kính 3D (hệ màu thông dụng Red –Cyan) để cùng săm soi bộ ảnh ứng dụng kỹ thuật 3D của Thảo Trang có gì hấp dẫn?
Ảnh: Khoa Hồng Quí
Stylish: Khoatun
Fashion: Pé Đen Shop
Make-up: A.Phan
Model: Thảo Trang
Tuấn Khoa
Monday, October 4, 2010
Nhiều phát hiện thú vị trong bức ảnh Hà Nội khổng lồ
Đó có thể là những hình ảnh tạo ra từ “lỗi kỹ thuật”, nhưng đó cũng có thể là điều đang diễn ra hàng ngày mà chỉ đến khi xem ảnh ta mới bất ngờ phát hiện ra.
Từ khám phá thú vị…
Chi tiết “bắt giò” dễ nhận ra nhất là hình ảnh một cô gái mặc áo đỏ có khả năng “phân thân” khi đang đi bộ trên vỉa hè ở đoạn số 27 đường Đinh Tiên Hoàng nằm bên phải Hồ Gươm trong bức ảnh. Thoạt nhìn, ta có thể tưởng đó là hai chị em sinh đôi. Tuy nhiên, thực tế là mặc dù đi cách nhau tới khoảng bốn mét nhưng hai đối tượng đó đều là một người.
Cô gái áo đỏ “phân thân” trên vỉa hè đường Đinh Tiên Hoàng
Ly kỳ hơn, chắc hẳn nhiều người không khỏi giật mình khi thấy cảnh nửa thân người đội mũ bảo hiểm đang bay lơ lửng trên đường Ngô Quyền ở đoạn giữa vườn hoa Con Cóc và khách sạn Sofitel Metropole.
Cũng mang tới cho người xem cảm giác “rờn rợn” không kém là hình ảnh một người đàn ông đứng đọc báo ở cạnh cổng Đền Ngọc Sơn bên Hồ Gươm. Người này đứng trong tư thế… đôi chân bị cắt riêng và đặt ở đằng trước thân người một khoảng.
Sở dĩ bức ảnh xuất hiện những chi tiết kỳ khôi như vậy là do nguyên tắc chụp ảnh panorama là ghép các ảnh của cùng một cảnh để tạo cảnh lớn. Các tấm ảnh này được chụp liên tiếp trong thời gian ngắn nhất để ít tạo ra khác biệt giữa các tấm ảnh liền nhau. Tuy nhiên, khi chụp đường phố thì các cảnh vật là tĩnh, nhưng người và xe cộ đang di chuyển là động.
Điều này dẫn đến trường hợp có khi chụp tấm ảnh thứ nhất đã lấy được nửa người đi xe máy ở rìa ảnh, nhưng đến lúc chụp tấm ảnh thứ hai thì “cảnh vẫn còn mà người nay đâu”. Kết quả là khi ghép hai ảnh này vào chỉ còn sót lại nửa người đi xe máy.
Hay như trường hợp của cô gái mặc áo đỏ xuất hiện hai lần trong bức ảnh. Do máy đã chụp liên tiếp hai ảnh cùng hướng chuyển động của đối tượng nên cả hai hình đều có đối tượng lọt vào. Vì lúc máy chụp ở hàng trên thì cô gái đang ở một vị trí, lúc máy quay lại chụp xuống hàng dưới thì cô gái đã kịp đi xuống dưới.
Bức ảnh Hà Nội khổng lồ này mặc dù được chụp tự động “siêu tốc” bởi thiết bị chuyên dụng, nhưng để chụp lên được 1.000 tấm ảnh cũng phải mất thời gian gần hai giờ đồng hồ. Chính bởi sự chênh lệch thời gian nên có thể thấy trong ảnh đồng hồ Bưu điện Hà Nội chỉ 10h10’ còn đồng hồ Nhà thờ Lớn Hà Nội chỉ 10h5’.
Tác giả Dương Vi Khoa cho biết, ngoài những lỗi lớn hơn có thể phát hiện từ xa đã được sửa, anh vẫn cố tình để lại những lỗi nho nhỏ để mọi người còn có cơ hội phát hiện và bàn tán. “Xóa hết đi sẽ không còn “vui” nữa”, Khoa hóm hỉnh tiết lộ. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định trong tấm ảnh in ra sẽ không còn lỗi nào nữa.
… đến phát hiện bất ngờ
Bức ảnh được chụp theo góc từ trên cao nhìn xuống, vì vậy đã ghi lại cả những vị trí mà thông thường chả mấy ai ngó được tới, ví dụ như nóc các tòa nhà. Và không ít người hẳn rất bất ngờ khi phát hiện có người sống trên nóc tòa nhà Bưu điện Hà Nội.
Trong ảnh, nhìn ngay gần vị trí của đồng hồ Bưu điện sẽ thấy một người đàn ông cởi trần mặc quần đùi đang lúi húi… làm gì đó trong tum của tòa nhà. Trên sân thượng tòa nhà Bưu điện còn có cả dây phơi khăn mặt và quần áo.
Ống kính máy ảnh cũng tình cờ ghi lại cả những khoảnh khắc “tình tứ” của các lứa đôi, dù là ở trong nhà hay bên hồ.
Theo VTC/Nông thôn ngày nay
Saturday, October 2, 2010
Phim truyện lịch sử Việt Nam - vì sao khó làm?
Bộ phim “Thái tổ Lý Công Uẩn - Đường tới Thăng Long” của công ty Trường Thành vừa ra đời, lập tức đã có nhiều tranh cãi gay gắt. Là một nhà làm phim, tôi đã xem xét rất kỹ nhiều ý kiến đăng tải trên các báo, website, blog về vấn đề này, quả thật buồn nhiều hơn vui. Chê hay khen, ủng hộ hay công kích, không bằng chia sẻ chân thực những ý nghĩ và việc làm của chính mình, của đơn vị tôi phụ trách là Hãng phim Hội Nhà văn, một hãng phim có kinh nghiệm hợp tác làm phim với Trung Quốc.
1. Có lẽ, đa số người lên tiếng chê phim là có màu sắc Trung Quốc đều chưa xem phim. Nên chăng, nhà sản xuất nên tổ chức chiếu giới thiệu cho một bộ phận nhỏ đối tượng, như các học giả, các nhà báo, nhà văn, nhà chuyên môn làm phim và nhà quản lý văn hoá. Gọi là chiếu nghiên cứu, chưa phổ biến, cũng được. Sau khi xem phim rồi, mới nên căn cứ vào đó mà khen chê nhau. Tôi không có ý bênh công ty Trường Thành, nhưng có như vậy khen chê mới thấu tình đạt lý.
Thực tế đã xảy ra việc một tiến sĩ sử học có trong tay chỉ là bản kịch bản phim, nhưng vẫn cứ đi kiện nội dung bộ phim mà hãng chúng tôi làm ra. Vì khi sản xuất phim, chính tác giả kịch bản và đạo diễn đã sửa thoại rồi, sau đó vì ông ta chót kiện rồi, thì cố bới ra lỗi khác để tiếp tục kiện. Lại có một tờ báo đăng bức ảnh một cảnh quay trong phim chúng tôi làm ở trường quay, nhưng thực ra đó chỉ là cảnh ở trường quay, còn trên phim thì đã qua khâu kỹ xảo, những râu ria bị tẩy hết rồi, và bị cắt cúp cảnh, vì đạo diễn hình ảnh không ngớ ngẩn như vậy. Những bức ảnh lưu hành trên mạng về phim Trần Thủ Độ và phim của công ty Trường Thành là rất đậm mầu sắc Trung Quốc, nhưng tôi vẫn nghĩ, lẽ nào nhà sản xuất lại để như vậy. Cái mái lầu kia là ngói ống Trung Quốc, biết đâu khi lên phim các nhà làm phim đã tẩy nó đi, thay vào đó là ngói vảy âm dương của Việt Nam rồi thì sao? Nếu thế các nhà khen chê chẳng phải là bị một phen "việt vị" ư? Mà câu chuyện phim cũng chưa ai biết nó như thế nào, tôi tin rằng, kịch bản có lẽ là vấn đề nặng nề hơn, so với việc cảnh phim "trông giống phim Trung Quốc".
2. Ông Phan Cẩm Thượng có trả lời phỏng vấn về việc làm phim của công ty Trường Thành rồi kết luận “Việt Nam chưa thể làm phim lịch sử”, là do ông có những trải nghiệm, quan sát người Trung Quốc làm phim. Nhưng sau đó ông lại nói "điện ảnh là nghệ thuật". Đúng, không ai phủ nhận điện ảnh là một nghệ thuật, nhưng ông Thượng chưa diễn đạt được ý tiếp theo: Điện ảnh là một nền công nghiệp. Vì có quá nhiều người không hiểu nổi điện ảnh là một ngành công nghiệp, nên không hiểu vì sao Việt Nam chưa làm được phim hay.
Hiện nay, một bộ phim là kết quả của một dây chuyền công nghệ hiện đại, thâu nạp trong nó cả những ngành khoa học kỹ thuật hiện đại nhất. Điện ảnh hiện đại có cơ sở hạ tầng riêng cho nó, có hệ thống các ngành phụ trợ cho nó. Nôm na có thể ví dụ như nền công nghiệp ôtô. Ai cũng hiểu để làm ra một cái ô tô, phải có nền công nghiệp phụ trợ, rồi có tiến trình nội địa hoá dần dần. Nhưng lại rất ít người, đặc biệt là nhà quản lý văn hoá, chịu hiểu rằng, để làm ra một phim truyện tử tế như Hollywood hay chí ít Trung Hoa lục địa đã làm, thì cũng cần một nền công nghiệp điện ảnh có hạ tầng không kém nền công nghiệp ôtô, thậm chí mức độ công nghệ còn hơn vì kỹ thuật quang học, kỹ thuật vi tính có lẽ áp dụng tất cả thành tựu mới nhất trong điện ảnh. Tại Hoành Điếm, có hàng trăm hécta với 11 trường quay, có một khu công nghiệp với hơn 100 công ty điện ảnh, chuyên cho thuê từ ống kính hàng chục triệu đồng một ngày, đến việc cho thuê cái chổi cùn thế kỷ 19. Có công ty làm kỹ xảo mà giá trị một phút phim có thể tính bằng tiền triệu đôla, có các công ty làm bối cảnh sao cho giống thật nhất để rồi… đốt đi.
Có lẽ nên biên tập lại ý của ông Phan Cẩm Thượng là: Việt Nam hiện nay chưa có ngành công nghiệp điện ảnh đủ làm một bộ phim cạnh tranh được trên thị trường phim ảnh thế giới. Nếu cách đây 10 năm, nhà quản lý văn hóa khôn ngoan chuẩn bị một trường quay và một số cơ sở thiết yếu cho điện ảnh, thì có thể năm 2009 có thể bắt tay làm được một phim lịch sử có thể xem được chào mừng 1000 năm Thăng Long. Còn nói như một số người, chỉ nên làm phim tại Việt Nam hiện nay, thì hoặc là nói để mà nói, hoặc là không hiểu gì về việc làm phim. Nếu làm phim như ở Việt Nam, thì cố gắng lắm cũng như Tây Sơn hào kiệt, hoặc nói một cách ví von thì, giống như bảo làm cái ôtô “made in Vietnam”, có lẽ chỉ làm ra cái xe công nông mà thôi. Lại có người bảo, cứ đi quay ở Bái Đính là ra Hoa Lư, quay ở Huế là ra Thăng Long, thì thật là hồ đồ, không hiểu làm phim thế nào.
3. Trong điều kiện như Việt Nam, hoàn toàn thiếu thốn như vậy, thì những nhà sản xuất phim muốn nhanh chóng làm ra một bộ phim lịch sử, tất yếu phải nghĩ đến việc tận dụng cơ sở hạ tầng của điện ảnh Trung Quốc. Vấn đề là làm như thế nào mà thôi. Có lẽ, cần 2 yếu tố, một là việc làm phim phải được trao vào tay các nhà chuyên môn có kinh nghiệm, hai là việc làm phim với Trung Quốc cũng cần phải hiểu đối tác, lựa chọn một phương thức hợp tác thích hợp để đạt mục tiêu của mình là làm ra một phim Việt Nam. Có thể lấy Hàn Quốc làm kinh nghiệm tốt. Họ cũng quay phim tại Trung Quốc, nhưng lại làm ra bộ phim Hàn Quốc. Cũng như Nhật Bản có do dự gì khi lắp ráp ôtô ở nước ngoài, và vẫn lắp ra ôtô nhãn hiệu Nhật Bản. Vậy thì nhà làm phim có bản lĩnh, thế giới chính là trường quay của ông ấy, nội dung phim sẽ nói ông ấy là thế nào. Vấn đề là sở hữu trí tuệ trong một tác phẩm. Theo dõi các tranh luận về phim của công ty Trường Thành, tôi thấy không phải lỗi là “làm phim ở Trung Quốc”, mà là lỗi ở những người Việt Nam đi làm việc với Trung Quốc. Công ty Trường Thành đã cố gắng mời các chuyên gia văn hoá nhưng đó cũng chưa phải chuyên gia về lĩnh vực làm phim. Có thể là họ không thổi được cái bản lĩnh sáng tạo vào tác phẩm điện ảnh nên mới ra nông nỗi ấy.
Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam đã hợp tác với các đơn vị Trung Quốc làm 2 phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và Hà Nội - Hà Nội, hiện nay lại đang thuê Trung Quốc làm dịch vụ kỹ thuật phim Vượt qua bến Thượng Hải, và các phim này đều được đánh giá tốt. Một là, vì những đề tài phim chúng tôi chọn phù hợp với việc hợp tác với Trung Quốc, không có yếu tố bối cảnh và con người Trung Quốc là không được, không ảnh hưởng đến việc suy diễn có thể có hại đến hợp tác. Hai là, chúng tôi huy động được 2 yếu tố thành công như đã nói ở trên: đoàn làm phim và các tác giả có chuyên môn cao, hợp tác với Trung Quốc có nguyên tắc và hiểu biết lẫn nhau, mục tiêu là làm phim Việt Nam, nói về con người Việt Nam. Tuy vậy, cũng khá nhiều vấn đề mà nếu buông ra, có thể làm cho bộ phim hỏng, mà chỉ có người làm chuyên môn mới hiểu và xử lý được. Công ty Trường Thành đã mời được đạo diễn Trung Quốc không tầm thường đâu, nhưng lại để cho một đạo diễn Việt Nam mới toe làm đối tác, thì khó có thể có kết quả tốt được.
| Cảnh trong phim "Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long" của công ty Trường Thành. |
Điện ảnh Trung Quốc là một nền công nghiệp, có thị trường, Nhà nước không hỗ trợ tiền để làm phim như ở Việt Nam, các dịch vụ điện ảnh là thuần tuý thương mại. Họ có trường quay, có công ty làm bối cảnh, may trang phục, anh đến đặt hàng thì vấn đề là anh đặt hàng thế nào lại để họ ép anh, tôi thực sự không hiểu? Có thể nhà sản xuất Trường Thành quan niệm về việc làm phim tương đối đơn giản, dẫn đến chủ quan. Hoặc nhà sản xuất quan niệm chỉ có phim là chiếu được, rồi thu tiền về chăng? Nếu vậy, cú thất bại này sẽ là bài học cho nhà sản xuất.
4. Cách đây 3 năm, hãng phim Hội Nhà văn có khởi động một dự án làm phim về Vua Đinh và kinh đô Hoa Lư. Chúng tôi quan niệm, những đề tài lịch sử chính yếu, nòng cốt cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long có thể chỉ nên dành cho các hãng phim lớn, có nhà nước đầu tư lớn. Do vậy nên chúng tôi chọn đề tài Hoa Lư và Vua Đinh (và có lý do như sẽ nói sau đây). Hãng phim đã đầu tư làm kịch bản trong 2 năm. Để chuẩn bị cho việc làm phim, chúng tôi có gửi thư mời đến các cơ quan Trường, Viện nghiên cứu, đến nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, văn hoá đề nghị hợp tác về tư liệu và tư vấn. (Trong đó có tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Tống Trung Tín… và các chuyên gia khác quan tâm đến Hoa Lư).
Gửi thư đi các nơi, sau đó có khoảng mươi nhà nghiên cứu hồi âm, chúng tôi có trả nhuận bút tuy không lớn, nhưng cũng là một sự cố gắng của Hãng phim. Chúng tôi có cảm giác mình rất cô độc trong lĩnh vực làm phim lịch sử, và rất ít người quan tâm đến chủ đề đưa Vua Đinh lên màn ảnh. Toàn bộ khối tư liệu đó, tuy rất ít ỏi nhưng được xử lý và chuẩn bị bối cảnh. UBND tỉnh Ninh Bình có hỗ trợ 200 triệu đồng để chuẩn bị làm phim.
Sau khi thực sự bắt tay vào chuẩn bị làm phim, chúng tôi thấy mình đã húc vào một vấn đề quá lớn và ý thức được rằng, nếu làm phim ra, chắc chắn sẽ là đề tài tranh luận gay gắt. Ai biết kinh đô Hoa Lư khi đó thế nào? Ai biết vua Đinh mặc gì, nói gì? Ai biết các sứ quân mặc quần áo thế nào? Lê Hoàn khi làm tướng mặc gì? Dương thị trang phục thế nào? Hay triều đình Ngô Nam Tấn Vương, Ngô Thiên Sách Vương ăn mặc và thiết triều ra sao? Chúng tôi có trao đổi với một số nhà chuyên môn, và sơ bộ thống nhất là trang phục của nhà Đinh, nhà Lê, cho đến đầu Lý là trang phục ảnh hưởng của thời Đường.
Việc nghe tin các đoàn làm phim của ta đi làm phim về Lý Công Uẩn mà làm trang phục thời Tống, là chệch hoàn toàn. Nhưng thiết kế cụ thể trang phục thế nào? Quả là một núi khó khăn. Toàn bộ cơ sở hạ tầng của Trung Quốc có thể sử dụng được, vấn đề là anh vẽ cái gì trên đó.
Đối tác Trung Quốc nói với tôi: Bất kỳ cái gì ở Việt Nam chưa có, thì Trung Quốc có, đó là kỹ thuật, kỹ xảo, là kinh nghiệm quay đại cảnh, quay ngựa, quay cung đình, là âm thanh hiện đại, là hóa trang, là đạo diễn hiện trường... Cái gì Trung Quốc không có thì các anh phải mang đến: đạo diễn, kịch bản, diễn viên, trang phục, bối cảnh, lời thoại... Chúng tôi suy nghĩ: Khâu dễ nhất có thể xử lý được là ngôn ngữ, nhưng nếu Việt Nam chưa chủ động được may trang phục, chưa chủ động được xử lý bối cảnh, sẽ rất dễ dẫn đến việc làm ra phim giống Trung Quốc. Vậy thì chúng tôi phải hỏi ai? Ai cũng giới thiệu bà Tình, tôi cũng đọc sách của bà Tình, rồi giới thiệu hoạ sĩ này họa sĩ kia… Nhưng tôi có một linh cảm, người nghiên cứu trang phục ở Việt Nam chưa phải là người làm trang phục cho phim, họa sĩ nổi tiếng cũng chưa phải hoạ sĩ mỹ thuật phim, kiến trúc sư danh tiếng cũng chưa phải nhà làm bối cảnh phim. Còn những người có chức danh đó vốn đã làm phim ở Việt Nam thì lại hoàn toàn mới khi làm phim lịch sử. Thậm chí, nhà phê bình của ta cũng chưa phải nhà phê bình phim. Người ta hay nhầm, người làm gì ngoài đời thì cũng thuê người đó làm trên phim. Có lẽ nghĩ thế thì ông Lý Huỳnh mới thuê võ sĩ đánh võ trên phim, nhưng sau đó thì cảnh đánh võ của ta lại không giống thật, mà những người đánh võ kinh hồn bạt vía ở phim Tàu, thì hóa ra lại chả phải võ sĩ giỏi giang gì. Hãy đến xem những cái nhà dùng làm bối cảnh quay phim ở phim trường Hoành Điếm, mới hiểu tại sao phải làm phim trường. Hiện nay, ở Việt Nam vác máy quay đi thuê quán cà phê để quay quán cà phê, thuê nhà dân để quay căn hộ, sao lên phim cứ giả giả? Đó là vì nhà dân hay quán cà phê không phải chỗ để anh có thể đặt máy quay, đặt ray trượt, chiều cao không cho phép anh đặt máy đúng góc, tường nhà không cho anh đặt đèn chiếu sáng đúng chỗ. Đó chỉ là một trong vô vàn lý do tại sao phải có trường quay.
Vâng, nếu thế, ai đi đầu làm phim lịch sử Việt Nam cũng sẽ là vật thí nghiệm và phải rất cẩn thận. Kỹ thuật thì không phải nghĩ nữa, nhưng cái khó là đặt ra mục tiêu nó phải Việt Nam thì nó như thế nào, chắc gì đã giải quyết được? Chúng tôi và đối tác ngày đêm tìm câu hỏi: Thế nào là Việt Nam, cuối cùng tạm gác lại với chủ đề tâm huyết này. Dù cho có đủ tiền của các đối tác, nhưng không dám làm ngay, trong khi tại Ninh Bình và ở Hội Nhà văn, liên tục có ý kiến là Hãng phim lấy 200 triệu đồng của Ninh Bình mà không làm phim. Cuối cùng, mặc dù tiêu gấp mấy lần số tiền đó, chúng tôi vẫn trả 200 triệu đồng cho Ninh Bình, để tiếp tục chuẩn bị tiếp.
Xin thưa, nếu làm phim tử tế, 2-3 tỷ đồng một tập chưa chắc đã xong, 20 tập của công ty Trường Thành, bảo là làm hết 100 tỷ đồng, tôi không tin, nhưng có lẽ cũng phải hơn 60 tỷ đồng. Tôi công nhận Hãng phim Hội Nhà văn nhát và hèn, không dám làm phim Vua Đinh, bởi vì nếu có bộ phim Vua Đinh, chắc gì đã có phim thỏa mãn tất cả mọi người. Khó lắm thay. Bây giờ, xem phim Pháp, phim Ba Lan hay phim Anh làm về thời kỳ Trung cổ, thậm chí chúng ta không phân biệt nổi đó là nước nào làm phim, họ đều giống nhau cả một loạt. Liệu trang phục của Việt Nam thời xưa có khác mấy so với Trung Quốc không? Trang phục dân dã có thể làm khác được, nhưng cung đình thì khó mà nói nó khác nhiều. Đến như các nhà mang tiếng là chuyên môn, chỉ mới cãi nhau con rồng trên áo vua Lý uốn khúc chữ U hay chữ C mà thôi. Tiểu tiết này, tiếc thay lại không làm thay đổi trang phục của phim.
5. Bây giờ, đọc những nhận xét của các nhà báo, nhà sử học, nhà văn và bạn đọc đối với Trường Thành, chúng tôi có thể cảm thông phần nào với nhà sản xuất Trường Thành. Lỗi ở cách xử lý chuyên môn, và nếu bộ phim hỏng thì hãy chỉ ra nó hỏng chỗ nào, chỉ thẳng là nó giống phim Trung Quốc thế nào, chứ không nên vơ đũa cả nắm, lên án việc làm phim ở Trung Quốc để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Nếu Trung Quốc có thể làm phim về cụ Lý, họ cứ việc làm, và mình cũng không cản được. Nước Mỹ làm phim về Piod đại đế, làm phim Chiến tranh và Hòa bình, làm phim về Nữ hoàng Cleopatre, người Nga và người Ai Cập thấy nhục chăng? Người Trung Quốc làm phim về Thành Cát Tư Hãn, người Mông Cổ thấy thế nào? Có ý kiến phản bác bà Tình làm con rồng uốn chữ U chứ không phải chữ C, cũng chỉ là võ đoán. Lại nói con rồng ngóc thẳng lên hay chéo lên là sai, thì cũng lại là cố tình trù dập nốt, vì chụp ở góc máy này thì con rồng nó ngóc thẳng, góc khác thì nó ngóc xiên. Khi phê bình đã mang sẵn trong đầu một thành kiến, thì phê bình cũng không có tác dụng gì. Nên nói nó không phải Việt Nam, nó là Trung Quốc, vậy nó thế nào mới là Việt Nam. Chắc là việc con rồng uốn hơi cong hơn hay nó ngóc thẳng, cũng không khác mấy so với bộ quần áo đã thiết kế cho phim. Vẫn chưa có câu trả lời thế nào mới thật Việt Nam. Tôi tin là các nhà làm phim đều cám ơn khi các nhà phê bình chỉ ra được điều này.
Tất yếu Việt Nam phải có một nền công nghiệp điện ảnh, thì mới có thể làm những phim về đời Trần, đời Lê được. Dĩ nhiên không thể sang Trung Quốc làm phim về việc đánh Trung Quốc. Lòng vả cũng như lòng sung, ta có cho người nước ngoài sang ta làm phim đánh bại Việt Nam không? Đó là danh dự có tính nguyên tắc khi chọn chủ đề hợp tác. Khi chúng tôi chọn chủ đề Hoa Lư để hợp tác với Trung Quốc cũng vì lý do này. Nhà Đinh không có trận nào đánh nhau chí tử với Trung Quốc. Câu chuyện phim là thời kỳ nội chiến. Còn nếu chọn nhà Ngô, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Lê, nhà Trần mà hợp tác với Trung Quốc là dù sao cũng có chuyện "canh cánh".
Đối tác Trung Quốc nói "không có vấn đề gì, lịch sử mà", họ dẫn chứng, Bắc Kinh làm phim về nhà Nguyên diệt nhà Tống, nhà Thanh đánh nhà Minh đấy thôi, có sao đâu, nếu cứ tránh né chuyện lịch sử thì không sao làm được phim lịch sử. Nhưng dù sao khi làm việc, cũng không tránh khỏi chuyện "cấn cá". Các đoàn làm phim về Lý Công Uẩn và Trần Thủ Độ hợp tác với Trung Quốc, nguyên điểm xuất phát là đã chọn cửa dưới rồi, đã khó lại càng thêm khó. Có lẽ họ chọn phương thức hợp tác không phù hợp và không hiểu rõ đối tác, chứ không hẳn là không thể làm ra một bộ phim khác hay hơn thế. Còn nếu cứ tự làm, thì ta tạm bằng lòng với cảnh cưỡi ngựa như người Mông Việt Bắc cưỡi ngựa đi chợ thôi, chứ không phải dũng tướng ra trận. Hoặc bằng lòng với việc làm như sân khấu, dù cho có huy động hàng ngàn người, vẫn không ra đại cảnh hùng tráng cho phim. Đơn giản là Việt Nam chưa có đạo diễn trường quay khi xử lý đám đông đại cảnh, tôi tin là thế, chứ chưa nói đến đại cảnh chiến trường có binh khí, ngựa, xe. Ai nói có thể đảm đương được việc này, xin nói ra, để chúng tôi có thể xin được hợp tác ở các phim sắp tới và bái làm sư phụ.
6. Hiện nay, có người nói, lấy tiểu thuyết lịch sử của nhà văn A, nhà văn B để làm phim. Đúng rồi. Nhà văn mà. Nhưng mà đó không phải kịch bản điện ảnh. Điều này thì ít ai hiểu cho nhà làm phim. Có khối tiểu thuyết lịch sử hay, ví dụ cách viết của ông Nguyễn Xuân Khánh hay chứ, của Hoàng Quốc Hải là hay chứ, nhưng nếu lấy đó mà làm phim thì đố ai làm phim hấp dẫn được. Nhưng những tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân có thể không hay theo kiểu thẩm định tiểu thuyết, nhưng đó lại là những tác phẩm chuyển thể kịch bản điện ảnh rất được. Vấn đề là bộ phim là một tác phẩm điện ảnh, con chữ trong kịch bản nhất định phải trực quan, nhà văn có thể tả buồn vui hàng chục trang trong tiểu thuyết, nhưng nhà làm phim không làm nổi một giây phim cũng là thường.
Phim truyện không phải là điện ảnh minh họa cho văn chương, hay minh hoạ cho tư liệu lịch sử. Lấy đền đài cung điện ở đâu, sông núi thuyền bè xe ngựa ở đâu? Riêng về trang phục, Võ Tắc Thiên trang phục đẹp và sexy hơn cả người mẫu thời trang ngày nay. Người Trung Quốc cũng tranh luận, liệu thời Tần cung điện có rực rỡ thế không? Người Hàn Quốc làm phim về Ju mong, lịch sử triều vua tương đương nhà Hán ở Trung Quốc, cung điện cũng sáng chói và hiện đại, công chúa đi buôn mà như đi dự lễ hội thời trang. Rõ ràng thời đó, Hàn Quốc không thể có những cung điện và phố xá đẹp như vậy. Vì điện ảnh là một nền công nghiệp, bộ phim là một sản phẩm nền công nghiệp ấy nhưng lại là một tác phẩm nghệ thuật, nên Trung Quốc mới có hơn 30 phim nói về Tào Tháo, 20 phim Hồng Lâu Mộng, gần 50 phim dựng chỉ về Tần Thủy Hoàng, Tây Du ký rồi Tam Quốc, Hồng Lâu Mộng cứ làm đi làm lại.… Nếu quan niệm như một số người Việt Nam, nhất nhất phim ảnh phải đúng như thật thời đó, thì không có sản phẩm điện ảnh, vì đơn giản là không ai biết thời đó thật sự thế nào.
Có lẽ, nên học tập cách xử lý tư liệu và từ tư liệu đến tác phẩm của các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản là thích hợp nhất. Cho nên, mới nói là Việt Nam ta chưa có đội ngũ chuyên môn điện ảnh từng lĩnh vực để cho phim lịch sử. Kiến trúc trên phim thế nào, trang phục trên phim ra sao, bối cảnh trên phim thế nào? Ngay cả lý luận về phim lịch sử cũng không có nốt. Khi đã không có cơ sở lý luận, thì hành động cũng mù mờ, nhà quản lý văn hoá không có bản lĩnh thì chọn, tốt nhất là không làm để không chịu trách nhiệm. Người phê bình thì nghe ngóng, đôi khi có hiệu ứng đánh hội đồng một vấn đề. Một khi sáng tạo nghệ thuật hoặc khoa học bị sức ép của đám đông, thì không còn gì là sáng tạo nữa. Điện ảnh nước ta hiện nay, riêng với lĩnh vực phim lịch sử, từ dự án của Hãng phim truyện Việt Nam của ông Lê Đức Tiến, đến dự án của Công ty Trường Thành, đang là như vậy chăng?
7. Để tiến tới xây dựng được một nền công nghiệp điện ảnh, cho ra đời sản phẩm của nền công nghiệp ấy có chất lượng, thì Nhà nước cần phải có định hướng rõ ràng. Nhà nước nên buông cái gì, quản cái gì? Cơ sở hạ tầng điện ảnh không chỉ là máy quay, là in tráng phim. Hiện nay, cơ sở in tráng phim của Việt Nam chắc chắn là lạc hậu so với khu vực. Chỉ có máy quay là hiện đại vì nhập dễ dàng. Chúng tôi đã nghiên cứu cái ảnh có cái máy quay của Trương Nghệ Mưu, thật ra, nó còn lạc hậu hơn máy quay của Hãng phim truyện 1. Ngoài ra, Việt Nam không hề có trường quay, không có công nghiệp phụ trợ, không có công nghiệp kỹ xảo và âm thanh, không có kinh nghiệm về dịch vụ phim ảnh. Đó mới là đồng bộ để làm phim, chứ không chỉ có cái máy quay. Khi có nền công nghiệp điện ảnh phù hợp rồi, thì sẽ sản sinh ra một thế hệ đạo diễn, quay phim, hoạ sĩ… khác. Có thể vẫn là những con người hiện nay, nhưng chắc chắn cách làm và tư duy sẽ khác, mới có thể tạo ra sản phẩm điện ảnh khác được. Nhà nước ta nên đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện ảnh, chứ không nên chi mỗi năm hơn 10 tỷ đồng cho các Hãng phim làm 1-2 bộ phim.
Để đến ngày có thể làm những phim về đánh quân Nguyên, đánh quân Minh, dựng các phim về lịch sử hùng tráng của dân tộc, thì ngay bây giờ, nên chọn những chủ đề vừa phải, hợp lý có thể tận dụng được kỹ thuật hợp tác với Trung Quốc, rồi từ đó xây dựng nhân lực, xây dựng cơ sở vật chất mà tự làm. Vấn đề quan trọng là phải có bản lĩnh và có tâm thực sự vì nền điện ảnh. Thật đáng tiếc là phim Lý Công Uẩn lại không giao cho hãng phim truyện Việt Nam làm. Chỉ vì tranh luận mà nhà quản lý sợ không giao dự án nữa, nên mới có chuyện việc làm phim của công ty Trường Thành đầy chất nghiệp dư chăng? Khởi đầu một con đường, nếu không phải Nhà nước hỗ trợ, thì tư nhân tự làm, rồi truyền hình của Nhà nước mua phim của tư nhân, cuối cùng Nhà nước vẫn tốn tiền, mà lại không thể chủ động sử dụng đồng tiền ấy, không gửi gắm đồng tiền vào các nhà chuyên môn? Nhưng ai là nhà chuyên môn? Đến như bà Đoàn Thị Tình hàng chục năm nghiên cứu trang phục cổ, còn bị coi là không biết gì, thì ai biết đây? Tóm lại, vẫn cứ phải bắt tay vào làm mới biết được, mà làm thì có thể có sai. Chỉ có người không làm gì mới không sai sót gì cả. Nên, các vị phê bình cũng nên bình tĩnh mà đánh giá, xem xét thấu đáo, nếu muốn phán xử, nên điều tra cho kỹ càng.
Một lần nữa tôi cho rằng, Công ty Trường Thành không làm ra phim Việt Nam, lỗi ấy không thể hoan hô được, phải sửa phim, nhưng không vì thế mà gọi người làm phim với những lời lẽ thóa mạ nâng quan điểm nặng nề.
Hiện nay, có nhiều người cố tình làm lẫn lộn tâm lý không ưa Trung Quốc với việc làm phim với Trung Quốc là xấu. Thậm chí nâng quan điểm lên là “nô dịch văn hoá” để chỉ những người làm phim. Trước khi chúng ta tranh luận, phỉ báng nhau, thì con em ta vẫn cứ xem phim Trung Quốc, xem phim Hàn Quốc ngày ngày. Liệu những người đi tiên phong làm phim lịch sử có xứng đáng bị phỉ báng như vậy không? Có người nói, thà không có phim còn hơn có phim làm giống Trung Quốc. Nhưng tôi tin rằng, có phim làm hơi giống Trung Quốc, rồi mới sẽ có phim làm khác Trung Quốc được. Thực tế đang xảy ra rồi. Cứ “thà không có”, thì vĩnh viễn không có gì cả. Và chúng ta vẫn cứ phải xem phim Trung Quốc chứ không bao giờ có phim lịch sử Việt để xem. Nói bao giờ cũng dễ hơn làm. Bây giờ hãy xem lại phim Đêm hội Long Trì, áo chúa Trịnh mặc, đúng là cái áo sân khấu, dĩ nhiên nếu như bây giờ làm thế, lại không bị la ó ầm lên ấy chứ.
Trước kia, chúng ta đánh Mỹ, chúng ta có kỹ thuật của các nước anh em để chống Mỹ, nên không có ai mang tiếng thân Mỹ vì chúng ta không sang Mỹ học kỹ thuật tên lửa, hay học lái máy bay. Ngày nay, chúng ta làm phim chỉ có cơ sở tương tự như xưa làm chiến tranh du kích, còn không biết học lái máy bay, học bắn tên lửa ở đâu? Học Hollywood? hay học Bollywood? Hay học Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc? Nếu làm phim chủ đề hiện đại thì khỏi bàn, nhưng phim lịch sử thì liệu có thể có tiền học Mỹ, học Ấn Độ, Nhật Bản không? Hay là chúng ta khoanh tay múa ngôn từ trông chờ một cá nhân xuất chúng, bỗng dưng làm ra một bộ phim lịch sử Việt Nam ngang tầm với khu vực?
Nếu đủ tiền, nhà nước hoặc các doanh nghiệp nên tham gia làm phim và học tập luôn cách làm phim của Hollywood. Nhưng liệu nhà nước Việt Nam hay có doanh nghiệp Việt Nam nào chịu chơi thế không?
Hiệu quả nhất vẫn là học tập cách làm của chính Trung Quốc, dĩ nhiên hợp tác văn hóa thì cũng có nguyên tắc của nó, có cái khéo riêng. Năm 1985, điện ảnh Trung Hoa lục địa cũng như chúng ta ngày nay, không có trường quay nào, không có bộ phim lịch sử hoành tráng nào. Vậy mà hiện nay họ như vậy, vậy họ làm thế nào? Sao có thể làm ngơ mà lại đẩy lùi được phim Trung Quốc?
Hiện nay ta đang có một thành tựu về toán lý thuyết ngang tầm thế giới, nhưng đó là ngành khoa học thuần tuý trí tuệ, chỉ cần mẩu bút chì với tờ giấy là xong, mà cũng phải qua cái lò Pháp, Mỹ cơ đấy. Còn điện ảnh, khó chịu thay, lại cần cả một nền công nghiệp, chứ không chỉ trí tuệ của một cá nhân với một cái bút chì.
Tôi không ngại trình bày quan điểm khác với số đông, tôi tin rằng, với những gì tôi viết ra trên đây, người có tâm sẽ hiểu nỗi khổ của một nhà văn, một nhà sản xuất phim Việt Nam. Tôi tin rằng, tôi cũng yêu nước như bất cứ ai, lòng tự tôn dân tộc cũng chất ngất như ai. Nhưng việc làm ra một bộ phim lịch sử thì không phải là tránh Trung Quốc mới là yêu nước, khác nào như con đà điểu rúc đầu vào cát khi nhìn thấy người thợ săn xuất hiện ở chân trời?
Nguyễn Xuân Hưng
Giám đốc hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam
Monday, September 20, 2010
Sunday, September 19, 2010
Sunday, May 16, 2010
Trắc nghiệm não
Để trả lời câu hỏi này bạn cần phải nắm một chút về cái “đầu” của mình. Có người đã nói là trước khi phát huy hết tác dụng của 1 cái gì đó thì phải tìm hiểu nó. Và cái não của mình cũng thế. Tìm hiểu một xíu về não mình cũng tốt vậy. Mình sẽ không có trình bày liên quan tới tâm lý học hay giải phẫu học gì cả (cao quá mà ^^), chỉ là giới thiệu cho mọi người biết về 2 bán cầu não của mình để phát huy tối đa cho công việc và cuộc sống.
Trước tiên, làm một thí nghiệm nho nhỏ nhé, hãy nhìn vào hình cô gái dưới đây:
Nếu bạn thấy cô gái đó xoay theo chiều kim đồng hồ tức là bạn thuộc típ não trái, còn ngược chiều kim đồng hồ là thuộc típ người não phải. Nếu bạn thấy xoay 1 hướng rồi, hãy thử xem bạn có thể sử dụng não kia để xem chiều quay ngược lại thế nào nhé!
Não người được chia thành 2 bán cầu: bán cầu não trái và bán cầu não phải. Não trái chi phối các hoạt động tư duy logic và đảm nhận các thao tác của nữa bên phải của cơ thể.Não phải chi phối cảm xúc, hình ảnh và đảm nhận các thao tác của nữa bên trái của cơ thể.Như vậy, nếu bạn là một người thiên về lý trí, logic, phán đoán thì não trái của bạn khá phát triển. Bạn có thể dựa vào điều này để bồi dưỡng khả năng logic, phán đoán của mình bằng cách phát triển não trái. Miễn hình thức nào có lợi cho não trái của bạn thì sẽ có lợi cho các hoạt động mà não trái chi phối. Ngôn ngữ cũng là một phần của não trái, nên có người nói là học nhiều ngoại ngữ sẽ giúp bạn thông minh hơn.
Ngược lại, nếu bạn muốn có khả năng sáng tác nghệ thuật thì hãy quan tâm tới não phải của mình. Màu sắc, hình ảnh, âm nhạc, cảm xúc là những cái cần phải tập luyện để não phải của mình phát triển để giúp mình trở thành..nghệ sĩ.
Tóm lại, đừng sống thiên về một bên não nào quá, sẽ không tốt cho công việc hoặc cuộc sống của mình. Thiên về não trái quá thì trở nên lúc nào cũng nói logic, khô khan, kém uyển chuyển. Còn nếu thiên về não phải quá thì lại lúc nào cũng mơ mộng, giàu cảm xúc quá thì lại xa rời thực tế, làm việc chỉ nói cảm xúc, thiếu lý trí để phán đoán. Hãy chăm lo cho cả 2 bán cầu não của mình nhé mọi người, hãy thử tập luyện thì sẽ thấy tác dụng thôi!
(nguồn cuacuon.net.vn)
---------------------------------------------
Hi, mình đã thử, thấy có thể điều khiển được theo cả hai hướng . Nhưng não trái mạnh hơn :)
Saturday, April 24, 2010
Thư tình cho những người không đến được với nhau
*
Em viết thư tình cho những người không đến được với nhau,
chẳng phải để an ủi, chẳng phải để ru êm nỗi đau tình của họ,
em chỉ muốn bộc lộ rằng mình coi thường sự hèn kém ấy đến nhường nào…
Ngày người ta yêu nhau, hát vang những “Bức thư tình…” để tặng nhau, mơ thứ hạnh phúc ngọt ngào, và gửi bao ước hẹn vào trăng sao…
Em lãng mạn, em mộng mơ, và em ảo tưởng về một tình yêu mà người ta luôn tìm cách ở bên nhau khi yêu và được yêu. Em đã gặp nhiều người như thế, hay ít ra biểu hiện bên ngoài của họ tạo cho em cái cảm giác như thế. Và vì em không ở trong tình yêu của họ, nên em luôn ngưỡng mộ, trân trọng thứ dũng khí đó, em nghĩ họ rồi cũng sẽ hạnh phúc. Điều đó khiến em chạnh lòng cho chính mình, em thấy mình toàn gặp những điều tồi tệ, những kẻ chẳng ra gì,… người cứ đến bên em buông lời yêu tha thiết, sau đó tim người đau đớn vì không thể có em, mắt người lo lắng dõi theo em nhạt nhoà, tâm người cầu chúc hạnh phúc ở lại với em, nhưng tay người không chịu giữ em lại, chân người không chịu chạy đến bên em, người đứng đó và bất lực trước cái thứ tình yêu đang tan nhanh như một làn khói. Vậy mà người vẫn nghĩ là người đã yêu rất thật lòng, yêu và đau khổ trọn vẹn trái tim.
Có những mong muốn tưởng chừng như rất đơn giản với người này nhưng lại trở thành vô cùng khó khăn với người kia chỉ vì họ đã nối với nhau bằng những kỳ vọng lệch pha. Em tự hỏi tình yêu là gì? Khi ngày hôm nay thề nguyền mãi mãi không rời xa, ngày mai đã nghẹn ngào chia ly, chúc nhau tìm thấy hạnh phúc ở khoảng trời riêng. Đời gọi đó là tình yêu cao thượng, nhưng em thấy thật ngớ ngẩn lắm thay! Vì bản thân em không thể nào hiểu được cái kiểu tình yêu nằm trên đầu môi mà tâm tưởng không chịu làm bất cứ điều gì để giữ lại tình yêu cho mình. Người ta nói người ta còn yêu, yêu tha thiết, yêu nhiều lắm, nhưng người ta vẫn cứ để người mình yêu và yêu mình ra đi, rồi cả hai con tim đau khổ thổn thức.
Những người không đến được với nhau, chẳng phải bởi một cản ngăn nào từ bên ngoài, mà đơn giản tự bản thân dựng lên những rào chắn rồi không dám xô đổ hay nhảy qua, chỉ biết ngồi một chỗ, nhìn ra phía ngoài, cố ru yên trái tim mình trong đơn lẻ. Sao mà em thấy họ bạc nhược và bao biện quá thể. Thà rằng không còn yêu nhau, hoặc nhận ra mình đã sai lầm khi nghĩ đó là tình yêu, để lấy lý do cho việc chia tách còn dễ được cảm thông. Thà rằng như thế, em còn thấy họ biết sống đúng với bản thân mình hơn.
Cuối cùng rồi em cũng không thể hiểu tình yêu là gì và cái thứ tình yêu cao thượng mà người đời ca ngợi là cái quái gì nữa. Yêu người ta, nhưng không dám đem hạnh phúc đến cho người ta, nên cầu mong một người khác đến thay thế mình làm cái nghĩa vụ duyên phận mà lý tưởng lớn lao của mình từng mong ước. Em chỉ thấy đó là sự trốn tránh hèn nhát trong trái tim của kẻ bất lực và an phận. Thế đấy, trong mắt em, những con người như vậy thật đáng trách, họ đã không sống thật với bản thân mình, họ trở nên giả dối và họ thật đáng với những đau khổ âm thầm họ đã từng ngụy tạo. Nhưng họ cứ nghĩ rằng mình đã thật lòng, rằng đẩy người đến một bến bờ hạnh phúc khác là mình đã cao thượng trong tình yêu. Rốt cuộc cũng chỉ là thứ tình yêu khiếm khuyết ở phía cuối đường tình. Thứ tình yêu thương tật, thứ tình yêu đã chết sao lại xứng đáng được dựng đài tưởng niệm và gán ghép ý nghĩa Cao Thượng vào đó? Có chăng em chỉ thấy ngớ ngẩn, dở hơi. Và em coi thường những điều đó. Coi thường thật sự!
Đối với em, những người yêu nhau không đến được với nhau, nghĩa là chẳng có thứ tình yêu chân thành nào đã từng tồn tại, họ chỉ sống giả tạo hơn những cặp chia tay vì chán nhau mà thôi. Ngay cả một chút dũng khí còn không có, thì sao có thể dám nói rằng ĐÃ YÊU? Nếu ai đó kể với em rằng họ còn lại một mình và người kia ra đi khi vẫn còn yêu họ, thì em sẽ cười ngặt nghẽo, em báng bổ và nhổ toẹt vào cái ảo tưởng ngu xuẩn đó. Chẳng có yêu đương nào cả, tất cả chỉ đang cố tự an ủi mình. Xa nhau rồi sẽ quên nhau, rồi sẽ thấy đã từng sai lầm, khờ dại, và rồi sẽ thấy may mắn khi bỏ một người không hề xứng đáng với mình. Vâng, những người yêu nhau không đến được với nhau, thì chẳng ai xứng đáng với cái gọi là TÌNH YÊU cả! Vì thế cũng đừng nguỵ tạo rằng mình đã hành xử vì một TÌNH YÊU CAO THƯỢNG. Gian dối lắm người ơi!
Thế rồi em chẳng tin tình yêu nữa! Bởi có bao giờ em nhìn thấy mặt mũi nó ra làm sao để mà tin tưởng. Nên một khi người đã bỏ em ra đi, thì đừng bao giờ cố chứng minh rằng người đã từng yêu em. “Thật lòng” và “Cao thượng” của người chỉ nằm nơi chót lưỡi đầu môi, nên em sẽ thanh thản lắm, sẽ chẳng để tim mình buồn đau đâu! Bởi em không muốn đánh đổi tình cảm của mình vì những điều không xứng đáng.
Thế rồi em thấy mình vui vẻ, hạnh phúc! Chắc hẳn vì em là người đầu tiên khám phá ra cái chân lý đúng đắn này. Em đã không giống bao người, ngộ nhận và mê mệt bởi thứ tình yêu giả tạo đầy rẫy trong cuộc đời. Em đã không Si như người, nên em sẽ hạnh phúc. Thật đấy!
Người cũng sẽ thôi đau khổ, nếu người nghĩ được như em…
2. Ảo tưởng
*
Chỉ nên yêu, khi đã hiểu mình nhất, với chân thành trọn vẹn trái tim…
Hay tất cả chỉ là những ảo mộng của những con người đang tự huyễn hoặc mình?
Hôm qua em ngồi nói chuyện rủ rỉ với cô bạn. Cô ấy là một người đang đứng trong sự chênh vênh của một chuyện tình. Cô ấy có vài yêu cầu đơn giản như bao người phụ nữ khác nhưng hiện tại có vẻ bất khả thi cho đối tượng của cô ấy. Nghĩa là cô ấy chỉ mong muốn kết thúc tuổi trẻ của mình bằng một gia đình nho nhỏ, cô ấy sẽ toàn tâm toàn ý cho cái gia đình đó mà không có bất cứ nhu cầu nào cho việc chứng tỏ bản thân mình ngoài xã hội. Nhưng đối phương lại để cái mong ước nhỏ nhoi và an phận của cô ấy treo lơ lửng mấy năm rồi. Cậu ta bày ra một tương lai để giữ cô ấy hờ hững bên mình. Cậu ta trói chân cô ấy bằng cái dự định nửa thành thực, nửa hão huyền rằng “…mình sẽ cưới nhau!”, để cô ấy không dám quyết định bất cứ điều gì, cứ kiểu “bỏ thì thương, vương thì tội” và chờ đợi… đợi chờ… trong bấp bênh.
Nhiều lần em nói cô ấy “Bỏ đi!”, cô ấy lung lay trong thoáng chốc rồi vẫn không thể nào dứt được mối duyên chả ra đâu ấy cả. Cô ấy cứ cố gắng chờ đợi… vì có thể cô ấy yêu cậu ta nhiều quá! Yêu đến mức mê muội không nhận ra thực sự mình cần điều gì trong cuộc sống.
Cậu ta chưa một lần đưa cô ấy về nhà giới thiệu với gia đình, nhưng cậu ta lại nói rằng cha mẹ chê cô ấy “gầy và cận”, điều đó khiến họ không thích cô ấy, nên họ ngăn cản con trai mình có ý định rước cô ấy về làm dâu. Thế là cậu ta không dám dẫn cô ấy về nhà lần nào cả, trong suốt mấy năm yêu nhau, vậy mà cậu ta vẫn dụ dỗ cô ấy rằng “sẽ cưới”.
Cô bạn em sống rất biết điều, ngoan ngoãn lễ phép nên đi đâu người cao tuổi cũng quý mến. Mặt mũi cô ấy cũng dễ thương nên ra đường, trai lạ sẵn sàng đi theo làm quen. Học vấn cô ấy cao hơn cả em, đầy người ngưỡng mộ, bạn bè ai cũng nhiệt tình với cô ấy,… Cớ sao có mỗi cậu người yêu là không biết trân trọng? Đâu phải trên đời này dễ kiếm được người như cô ấy? Sao cậu ta không nghĩ là cưới vợ cho mình chứ có phải cưới cho cha mẹ? Sau này lấy vợ rồi cậu ta sẽ sống với ai? Chẳng lẽ vẫn với những người đã sinh đẻ ra mình mà không phải là người chung chăn gối với mình đến cuối đời? Và tại sao cậu ta không một lần dám thử đưa cô ấy về nhà, để cô ấy có cơ hội tìm cách xoá bỏ thành kiến trong lòng phụ mẫu cậu ta? Cậu ta hèn, cậu ta nhát đến mức tự ngắt bỏ cơ hội của mình và người yêu. Hoặc là cậu ta chả yêu đương gì cô ấy cả. Tất cả chỉ là cậu ta đang làm ra vẻ để hành khổ cuộc đời một người khác. Là em, em đã bỏ quách từ lâu rồi, như cách em bỏ người ấy! Em cứng rắn hơn cô ấy, bởi vậy em không thể nào chịu đựng được cái sự mập mờ phi lý đó.
Điều phi lý thì cứ ngập tràn trong xã hội, nên em thấy cô ấy giống em, hoặc em đang giống như bao nhiêu cô nàng khác, yêu phải một kẻ chẳng yêu mình nhưng lại ngộ nhận là yêu, và cả cái kẻ đối phương tệ hại cũng thế. Kẻ đó cũng ngộ nhận rằng mình yêu cô ta, và kẻ đó tin tình yêu của mình là thật vì trong khi kẻ đó yêu thì cả thế giới ghét bỏ cô người yêu của mình. Thế là kẻ đó chỉ còn cách giấu nhẹm cô ta đi, một mình mình biết, một mình mình hay, yêu âm thầm bí mật. Để đến một khi hết yêu cô ta, kẻ đó rút chân khỏi cuộc tình và mỉm cười đắc chí vì cả thế giới chẳng ai biết rằng mình đã từng yêu cô ta. Thế mà gọi là tình yêu à?
Người chỉ dám nói với em rằng người yêu em, ngoài ra không một ai biết về cuộc tình này nữa. Và người nghĩ rằng gia đình người không chấp nhận nổi em để làm lý do người không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào tốt đẹp cả. Ôi, phụ huynh người thậm chí còn chẳng biết con trai mình yêu em, thì làm sao người lại dám khẳng định rằng họ không chấp nhận em cơ chứ! Trên đời này chỉ có em không thích người này, ghét bỏ người kia, chứ chẳng có ai thù hằn nổi em cả. Có thể hôm trước họ bị em chửi, nhưng hôm sau họ vẫn yêu quý và đối xử tử tế với em được, giống như người, cũng đã từng bị em chửi te tua, rồi sau đó người vẫn yêu em đấy thôi! Ngoài bản thân người ra, thì người có gì để cám dỗ em chứ? Tiền chẳng nhiều hơn em, địa vị chẳng cao hơn em, nhan sắc cũng chẳng đến mức khiến em lo sợ phải cạnh tranh cùng một cô nào đó. Người chẳng hơn em điều gì ngoài sự yếu đuối và tự ti cả! Vậy người nghĩ em yêu người vì điều gì? Em là niềm mơ ước của bao kẻ khiến người cứ phải ghen tuông khi kẻ này kẻ nọ đến tán tỉnh em, còn em có bao giờ ghen vì một cô nào đó cố quyến rũ người không? Ngoài việc em lo sợ người thay lòng đổi dạ thì có bao giờ em phải ghen đâu! Thế mà người dám lớn tiếng nói người THẬT LÒNG, còn em thì không ư? Người tự tin nói người thật lòng trong cuộc tình với em phải chăng để bù đắp cho sự tự ti trước những giới hạn khác? Điều đó thật là xứng đáng với sự mù quáng của em lắm thay.
Nhưng giờ em hết mù quáng rồi! Nên em rời bỏ trong thanh thản. Em chẳng uỷ mị được như người để ngày ngày biểu lộ rằng mình đang đau khổ, sầu thảm, rằng tưởng như cuộc đời tàn lụi theo mối tình chết khô này. Dẫu em đã từng yêu hay chưa hề yêu thì quãng thời gian bên người cũng đã nằm lại nơi quá khứ. Em chỉ hiểu được một điều là em đã biết kết thúc sớm chứ không lằng nhằng như cái sự chờ đợi dài hơi, mù mịt của cô bạn em. Em mặc kệ nỗi bi thảm của người, thật sự thì em muốn người đau đớn hơn nữa kia, đến mức cuộc sống của người trở thành vô nghĩa khi mất em, cả đời người chỉ còn lại tiếc nuối. Nhưng mà em lại ảo tưởng nữa rồi, vì rõ ràng người có yêu em chân thành đâu. Người giả dối, thì nỗi đau cũng giả dối mà thôi… … chỉ mỗi em là đã từng có những ảo tưởng …
3. Thói quen
*
Khi hai người yêu nhau, chia tay không phải là quá khó, vấn đề nan giải nằm ở chỗ từ bỏ thói quen. Thói quen của sự gần gũi, kề cận một người đã biết bao tháng ngày. Đã từng có cảm giác vắng người đó một ngày tưởng chừng cả thế kỷ trôi qua, vậy thì sao có thể hoà nhập ngay cái ý nghĩ sẽ xa người đó hoàn toàn trong những năm còn lại của cuộc đời vào trong tâm hồn đang biến động như biển chiều.
Em chỉ già so với tuổi xuân, nhưng lại quá trẻ đối với một đời người, những năm tháng còn lại biết bao giờ mới kết thúc? Ngày xưa, em rủa thầm những kẻ tự tử vì tình, em cho là họ quá yếu đuối, sao họ lại có thể chết vì một người đã quay lưng bỏ họ lại một mình. Nhưng bây giờ em sẽ cảm thông cho họ đôi chút, vì em hiểu cái chết đối với họ vui vẻ hơn là sống mà thiếu đi người họ đã từng yêu thương. Em thì chỉ cảm thông thôi, chứ em không đồng tình mà làm theo họ đâu. Bởi có thể niềm yêu trong em chẳng đủ mãnh liệt kích thích em liều lĩnh bước sang thế giới khác. Em vốn sợ sự thay đổi và không chịu đựng được sự thay đổi quá nhanh mà! Hiện tại em chỉ đang cố gắng từ bỏ một thói quen đã trở nên cũ kỹ vào ngày hôm qua…từ bỏ một cách chậm rãi, nếu không sẽ bị sốc người ạ!
Hôm qua, em mặc áo của người tặng, váy của người mua và đi giày của người trả tiền. Hôm nay, em không mặc lại bộ đồ đó nữa, em phải thay đồ mới mà! Vậy mà nhìn lại em vẫn thấy phía đuôi cái tên chúng dính đến “của người”. Em chưa thay đổi được, có thể ngày mai, hay ngày kia, rồi ngày kìa, em vẫn dùng những đồ “của người” tặng em. Cho đến khi có ai đó thay thế cho em những thứ khác, thay luôn là hình ảnh mà em cứ đang cố gắng nhớ một cách đau đáu.
Thời gian trở nên già cả và ngớ ngẩn trong lúc này, nó đi mãi chẳng đến cái đích em mong muốn người ạ! Nhưng rồi dáng vẻ lẩm cẩm ấy cũng sẽ chết đi trong một tương lai xa em chưa định vị nổi.
Như chị của em ấy, đoạn nghĩa người tình sau bốn, năm năm yêu đương. Cuộc sống bỗng trở nên vô nghĩa chỉ sau một biến cô, chị ấy không biết làm gì cả, mọi thứ trước mắt cứ lơ mơ, đến hay đi cũng chẳng cần cảm nhận. Chỉ loáng thoáng biết rằng mình đang trôi lang thang trong vô nghĩa của đời. Chị ấy cứ tồn tại như thế một thời gian dài, đến mức chẳng ai tìm thấy con người sống động cũ nơi thể xác chị nữa. Họ phải khuyên chị đến gặp những nhà tâm lý, tư vấn về cách thoát ra khỏi cái trạng thái tâm linh thực vật đó. Người biết chị ấy nhận được lời khuyên như thế nào không? Rằng chị ấy nên quên hết quá khứ đi, sống cho hiện tại theo kiểu triết lý: “Ngày hôm qua là lịch sử. Ngày mai còn là điều bí ẩn. Chỉ hôm nay mới là quà tặng. Và chúng ta gọi là hiện tại”. Chị ấy nói mình không sao quên được, quanh chị ấy chạm vào bất cứ vật nào cũng gợi nhớ đến người đàn ông xưa cũ. Và họ bảo chị ấy cần mạnh mẽ lên, can đảm cất hết những thứ có dính đến kỷ niệm của hai người đi thì mới dễ quên được.
Em thì luôn cho rằng trên đời này việc đi xin lời khuyên và đưa ra lời khuyên là hai điều vô nghĩa nhất. Nên em chẳng bao giờ khuyên nhủ gì ai phải làm điều này, không phải làm điều kia cả. Vì em đâu có phải là phiên bản của họ để hiểu tất cả những ngõ ngách sâu tối trong tâm hồn một con người hoàn toàn khác với mình cơ chứ! Nên em cũng chẳng bao giờ đi xin ai cho mình lời khuyên cả, em không tin trên đời có người đủ tài giỏi để thấu hiểu em như chính em. Mọi chuyện em đều tự lý giải, tự giằng xé, tự hành hạ nội tâm của mình. Có thể một người ngoài nào đó, nhìn nhận sự việc bằng đôi mắt khách quan, và họ nghĩ những con người đang dính trong vướng mắc kia nên thực hiện giải pháp của họ thì mới có thể thoát ra được. Và có thể lời khuyên đó là đúng… Nhưng chẳng phải tất cả bám theo cái quy chuẩn đạo đức, tình cảm của họ chứ không phải là của em hay là của những người đang có vấn đề đó sao? Mọi chuẩn mực được đặt ra, được một số đông đồng tình, chẳng qua cũng chỉ là hợp thức hoá sự bao biện của họ với cuộc đời, về lối sống của họ. Nếu em nghe theo họ, tức là đồng tình thì em lẽ ra đã là họ rồi, em sẽ không rơi vào cái tình trạng phải đi xin lời khuyên làm gì cả, mà chỉ việc vung vít những giải pháp mình nghĩ ra rồi áp đặt lên cách hành xử của những người khác.
Chị của em rồi cuối cùng cũng chẳng làm theo lời khuyên, vì thực ra nếu cất hết những thứ ám gợi đến kỷ niệm của hai người, thì chị ấy lại chẳng còn gì để mà phục vụ sự sống của mình nữa. Đến giờ thì chị ấy vẫn chưa quên, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ quên, cùng lắm thôi bớt cồn cào… và thấy rằng những gì từng quen thuộc đã trở nên xa lạ, dù nó vẫn tồn tại… ở đó… rõ ràng… Còn em rút ra được thắc mắc là mấy cái trung tâm tư vấn tình cảm chẳng hữu dụng mà sao vẫn tồn tại?
Thế đấy! Nên em sẽ chẳng nghe theo lời ai, ngay cả người… em sẽ chỉ làm điều gì đó theo những mong muốn thực sự của tim, của não. Người đừng bảo rằng em phải quên người thật nhanh, để chóng đón lấy tương lai tươi sáng. Em sẽ chẳng ném cái xoẹt những ký ức của người vào một xó tối tăm để gây ung nhọt nhức nhối làm gì. Hay ho gì nỗi đau ngấm ngầm người nhỉ? Cả em và người đã từng đau khổ vì sự bấp bênh không gọi được thành tên lẩn khuất trong suốt thời gian yêu. Nếu như ngày đó can đảm lôi nó ra, nặn cho nó một hình hài, rồi đem xử quyết sớm thì đã chẳng phải kéo dài cái thói quen có nhau đến tận giờ. Thực ra mình chia tay nhau từ lâu lắm rồi, ngay từ phút đầu chạm tay nhau, ngay trong trái tim vẫn đang chung nhịp đập,…khi mình biết sớm muộn gì kết cục này cũng diễn ra. Tất cả chỉ là tại THÓI QUEN thôi!
Và cứ ngày ngày em ngồi viết lên những câu chữ cay nghiệt này, cũng vì đang cố tập luyện cho mình việc từ bỏ một thói quen…
Quá trình tập luyện nào cũng phải từ tốn, có bao giờ gấp gáp được đâu!
4/ Nguồn gốc
*
Ban đầu em không có cảm hứng gì để viết bức thư này cả. Em không nghĩ ra câu chuyện nào để kể, không biết nên nhớ về kỷ niệm gì giữa em và người,… Nhưng em cần phải viết, để làm liền mạch chuỗi nghĩ suy trong em. Nếu như để lại những đứt đoạn, em sẽ lại mất thêm thời gian và công sức nối liền chúng với nhau. Gần tàn ngày em mới bắt đầu tìm kiếm được trong mớ lộn xộn của ký ức mình nên viết điều gì. Nó là nguồn gốc nỗi dằn vặt của em người ạ!
Người ta dằn vặt trong thời gian dài vì những cuộc tình đã qua bởi nhiều lý do. Em không biết có ai giống mình? Khi mỗi một đời đi ngang đều ám lại thứ cảm giác hoàn toàn khác lạ. Em nhớ lại từng dấu mốc của duy nhất một hiện tượng: đó là khi người ra đi, em đã như thế nào? Chợt thấy rằng, em đã yêu mỗi người bằng một nguồn gốc khác nhau, nên sau cuối cuộc tình cũng hạ sinh cho em một hình hài rất riêng.
Em có một đứa con đầu khờ dại. Em ghét nó, em hối hận, em tiếc nuối, em thấy mình ngu si, vì em không hiểu sao mình có thể chịu đựng sự hành hạ suốt mấy năm trời không dứt để thai nghén nó. Sinh ra, đem cho không ai nhận, vì tất cả mọi người bước vào yêu lần đầu cũng đều có một đứa con khờ dại giống em. Nên em để nó đi hoang không thèm chăm bẵm và nó chết mất xác ở đâu em càng mừng. Em đã mất một thời gian dài trách cứ mình sao lại sinh ra nó.
Đứa thứ hai mang dáng vẻ hụt hẫng người ạ! Giống như kiểu tâm hồn em mấp mé bên bờ vực thẳm, thấy trần gian chẳng có gì vui nên gieo mình xuống đáy. Trong lúc đang rơi một nhánh cây chìa ra níu em lại, nó treo em lơ lửng ở lưng chừng vách nghiêng. Em có cơ hội nhìn lên để thấy nơi mình từng ở thú vị hơn là đáy sâu tối om kia. Thế là em có ý định sẽ bám theo nhánh cây đó để trở về. Nhưng nó đột ngột gãy và em rơi tiếp… Thời gian ở cữ đó giống như việc hồn em có một khoảng trống, nên em đã vội vã lấp nó đi bằng một cuộc tình tạm bợ. Khi nó tan biến quá nhanh, em lại rơi vào chới với…Tính cách của đứa con thứ chỉ là một sự vá víu nhất thời, nên em không hụt hẫng sao được khi nhìn thấy mặt nó. Và rồi em cũng chẳng thích nó luôn. Việc ghét bỏ đứa con của mình, khiến em cắn rứt lương tâm… đau âm thầm…
Em tiếp tục rơi xuống, để gần đáy vực hơn… Một tảng đá lớn chòi ra đỡ em lại. Như tìm thấy một điểm tựa vững chắc để tránh rơi vào sâu thẳm tối tăm. Nơi tảng đá đó em đủ thấy ánh mặt trời, cảm đủ lạnh lẽo của cô quạnh, nhưng nó chắc chắn và an toàn. Nó cho em sự yên tâm, cùng tất cả những gì mình cần trừ việc em phải sống một mình hiu quạnh. Điểm tựa đó, phôi thai ra đứa con tinh thần thứ ba của em. Nó không đẹp xuất sắc, nhưng nó đáng tin…Vậy mà một cơn biến động địa chất làm tảng đá của em biến mất. Em mất đi điểm tựa, mất đi niềm tin, mất luôn cả ánh sáng hy vọng…và hiển nhiên mất luôn cả đứa con mình tin yêu. Em mang một nỗi đau khác, nỗi đau của tiếc nuối…
Giờ thì em mặc kệ em rơi, như một hòn đá bị ném xuống đáy vực, hay kiểu một chiếc lá lìa cành, cứ rơi, nặng nhọc hay nhẹ nhàng cũng quan tâm nữa. Em đã gặp người, một áng mây dịu dàng, người bám theo em trong cuộc rơi này, và em quên đi cái thực tại của mình, em cũng nghĩ mình là một áng mây, em đang bay lơ lửng cùng người… đơn giản thế đó!
Sau những cảm giác day dứt về dại khờ, hụt hẫng và mất mát một chỗ dựa, em nhận ra em ở bên cạnh người không phải vì những lý do đầy trừu tượng mà bởi em thích người vì em được chạm vào người trong lúc đang rơi mà thôi. Thực sự đó là kiểu yêu thích về bản thể, không nằm trong tâm hồn con người. Em chỉ tưởng mình là mây, vốn em không phải là mây, nên người không thể có được gia tốc chiều đi của em, vì thế người và em tách nhau, khoảng cách cứ xa dần…người lại lơ lửng và em thì rơi nhanh.
Áng mây đó, chỉ là phút giây mù sương của em, có nó cuộc sống của em êm đềm hơn, và xa nó em thấy nhớ nhung kinh khủng. Sự dằn vặt của em kèm cả phỉ báng, bởi em nhớ người trước nhất từ sự va chạm khi bên nhau hơn là những cái khác. Nên xa người rồi, lý trí bảo em rằng tốt nhất không nên gặp nhau làm chi nữa.
Thật tình mà nói không phải em muốn đoạn tuyệt mọi mối liên hệ với người, thậm chí chúng ta vẫn có thể trở lại là bạn bè của nhau như trước khi yêu. Nhưng hiện tại điều đó với em rất khó, người biết sao không? Hễ cứ ở bên cạnh là em muốn được chạm vào người, muốn được ôm ấp bằng những cử chỉ yêu thương. Làm sao em có thể bình tâm thanh thản sau những điều đó khi mình đã chia tay. Em cần phải ở một mình cho đến lúc nào đó những xúc cảm về người trở nên lạnh lẽo vô vị. Những khao khát nóng bỏng của em cần được pha loãng, trở nên nhạt nhoà thì em mới có thể thành một người bạn cũ của người. Em tự thấy xấu hổ khi hiểu ra nguồn gốc sự day dứt hiện tại, nó chẳng trong sáng hay bất hạnh chút nào cả người nhỉ? Vì nó thuộc về bản năng hơn là rung động của trái tim…
Hôm qua em quên chưa kể cho người về happy ending của chị bạn em. Chị ấy cứ cố gắng thôi xót xa về người tình cũ trong đơn lẻ, nhưng không thể nào nguôi yêu. Đằng đẵng thời gian chỉ làm cho nỗi đau kéo dài triền miên. Cho đến một ngày, như là duyên phận đổi thay, chị ấy có một người khác đến bên cạnh,… và rồi chị ấy quên bẵng đi những đau đớn dày vò mình bấy lâu nay. Chị ấy nói cái cảm giác dứt được đau khổ tuyệt vời lắm người à. Nó nhẹ bẫng, thanh thản và tinh khôi, dù tình yêu mới cũng chưa đủ mặn nồng để làm mình hạnh phúc… chỉ đơn giản là người cũ đã trở nên xa lạ như đúng em nói ấy!
Chỉ cần như thế là kết thúc hẳn một chuyện tình.
Em hiểu rằng không nên bắt quả non chín ép, nên em chưa đứng lên được đâu. À không, mà là em chưa đủ điều kiện để bay lên khi đang rơi xuống đáy vực. Nhưng em sẽ không cần biết mình đang rơi hay đang làm gì cả, vì đằng nào cũng cảm giác điểm chạm xa mù, mà em thì chỉ có một mình… Nếu may mắn trên quãng đường rơi, em gặp một điều gì đó níu em lại như những điều trước đây, thì em mong nó sẽ nâng em bay lên, để em thấy cuộc đời mình khác đi. Chứ em không muốn mình sẽ lại tiếp tục ngộ nhận sương mù là một áng mây như với người nữa đâu.
Em với những suy nghĩ của mình, là đang đầu độc đứa con của sự ham muốn… Người muốn nó chết không? Còn em thì sẽ vui nếu kết thúc được sinh mệnh của nó. Em thật tâm mong nó sẽ chết!
Dù em cô độc…
Tuesday, April 20, 2010
Các lệnh hay trong cad
Các lệnh hay trong cad
Thursday, April 15, 2010
Nhà container: Tiện ích và rẻ tiền
Tuy nhiên, nhà container chỉ xuất hiện ở một số khu vực công trường xây dựng với mục đích làm nhà ở cho công nhân, văn phòng điều hành tạm thời tại công trường… Nó rất ít xuất hiện như nhà ở thực thụ vì nhiều người vẫn lo ngại ở hình thức đơn điệu, cảm giác nóng nực, tù túng mà nhà container mang lại.
Theo kiến trúc sư Nguyễn Cửu Long, Giám đốc Xí nghiệp Xây dựng Nhà tiện ích thì với những vật liệu cách nhiệt, chống thấm, chống ồn hiện nay thì các biện pháp kỹ thuật ốp vật liệu vào bề mặt container sẽ giải quyết được chuyện nóng, ẩm trong căn nhà container mà không cần đến máy lạnh.
Còn cảm giác tù túng đến từ chiều cao chỉ khoảng 2,6m và chiều rộng chừng 2m của container, theo ông Nguyễn Cửu Long thì hoàn toàn có thể xử lý bằng biện pháp nâng trần và mở vách. Hiện ông đang xây dựng một căn biệt thự tại quận Thủ Đức diện tích 500m2, trần nhà cao đến hơn 3m và có những phòng rộng đến 30m2 mà chỉ cần dùng 28 container loại 20feet.
Cũng tại căn biệt thự này, ông đã tiết kiệm được cho chủ nhân hơn nửa tỉ đồng tiền xử lý móng. Vì để xây dựng cả căn biệt thự như trên bằng vật liệu thông thường ở sát bờ sông, chi phí xử lý móng sẽ vào khoảng 700 triệu đồng. Nhưng với biệt thự container, ông chỉ mất hơn 50 triệu đồng cho phần móng.
“Chưa kể, xây dựng phần thô bằng container tiết kiệm được khoảng 30% chi phí” - ông Long cho biết. Nhưng theo ông thì các biện pháp nâng trần sẽ khiến chi phí thi công đội cao hơn. Tiện ích nhất vẫn là tận dụng hoàn toàn thiết kế ban đầu của container và thi công nội thất đơn giản.
Khi thi công kiểu này, chi phí sẽ rất thấp, rất thích hợp để xây dựng các dự án nhà ở xã hội, nhà cho sinh viên… Ông cho biết: “Ở các nước phương Tây, họ sử dụng container để xây dựng những khu nhà ở xã hội cho hàng ngàn người cư ngụ”.
Một lợi ích khác mà nhà container mang lại là xử lý lượng container cũ, tồn do quá trình xuất nhập khẩu. Bởi phương châm xây dựng nhà container là chỉ dùng container cũ. Mà các đơn vị xuất nhập khẩu nước ta hiện chỉ xử lý các container cũ bằng cách bán phế liệu.
Loại hình nhà container cũng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu thiết kế các công trình “phá cách” của “dân chơi”. Theo ông Long thì dựa trên cách thiết kế như sắp xếp các mô hình, nhà container có thể giải quyết các yêu cầu xây dựng đòi hỏi kỹ thuật cao một cách hết sức dễ dàng.
Ví dụ như muốn xây dựng một ban công lồi ra ngoài đến 5m mà không cần trụ chống. Xây dựng theo kiểu thông thường phải dùng những vật liệu đặc biệt với những giải pháp thi công cực khó. Với nhà container, chỉ cần xếp chồng 1 cái container 40feet lên 1 cái container 20feet, phần ban công nhô ra có khi còn dài hơn 6m.
Còn về ưu thế di động và thi công nhanh thì không cần bàn cãi. Ông Long cho rằng: “Ở những khu resort, nhà hàng muốn mở rộng diện tích, muốn xây thêm 1 cái biệt thự bên sông… mà không muốn ngưng kinh doanh, không muốn hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến khách… chỉ cần mua một căn nhà container, chở đến lắp đặt trong 1 ngày là xong”.
Với những ưu thế trên, nhà container hết sức thích hợp để xây dựng nhà ở các khu vực đất yếu ven sông, các cơ sở kinh doanh tạm thời, các công trình nhà ở xã hội giá rẻ, các kiến trúc phức tạp…
Lâu nay, nhà dân ở các khu quy hoạch treo thường chịu cảnh không được phép xây dựng mới, cải tạo nhà cửa để sử dụng. Hoàn toàn có thể nghiên cứu cho họ mở rộng diện tích nhà ở bằng container. Vì khi giải tỏa, có thể di dời cả căn nhà đi mà không cần đập phá.
Tùng Nguyên
Wednesday, April 14, 2010
Новое прочтение принципов строительства спортивных арен. Далянь, Китай
Своей заявкой, ставшей участником международного конкурса проектов дизайна нового стадиона для китайского города Далянь, компания НББДжей (NBBJ) создала новую концепцию спортивного сооружения, вернув этот вид человеческой активности в лоно природы.
Для постройки было выбрано место на берегу океана, у подножья горы. Однако, по ходу конкурса требования изменились - было выбрано другое место застройки. Однако, проект НББДжей (NBBJ) удачно вписался и в новую ландшафтную реальность.
Авторы назвали свою архитектуру органической. Обычно стадионы представляют собой центральную арену и зрительные трибуны, отделенные от арены. В этой концепции предложено вырастить открытый сад, вовлекая зрителей во внешнее взаимодействие, наслаждение не только зрелищем, но и естественной красотой природы.
Внешние, длинные стены стадиона используются как площадки для выращивания растений (плотность - 10-20 растений на квадратный метр). Они также являются поддержкой для инновативной крыши.
Крыша представляет собой уникальный полог, прикрытие, состоящее из системы кабелей и ткани, которая оживает над многочисленными вентиляторами.
Внутри стадиона, оптимизация просмотра достигается благодаря особенной системе расположения мест. Стадион рассчитан на 40 000 зрителей, с дополнительной возможностью разместить еще 15 000.
Tuesday, April 13, 2010
"Mẹ điên"
Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.
Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.
Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.
Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.
Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.
Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.
Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.
Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?
Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.
Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!"
Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.
Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.
Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn
Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..."
Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!"
"A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!" Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!"
Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!". Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.
Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.
Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra."
Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, tiếng chíp chíp mẹ phát ra cả đời tôi không bao giờ quên đi nổi. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.
Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.
Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.
27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.
Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..." Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.
Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"